Chọn tôm giống post / hậu ấu trùng ở kích cỡ nào?

Dù các đặc điểm của hậu ấu trùng / tôm giống / tôm post đã thay đổi theo thời gian nhưng vẫn chưa có phương pháp chuẩn để sử dụng nhằm xác định kích cỡ. Thông thường, “kích cỡ” của hậu ấu trùng được tính theo ngày tuổi của chúng sau khi qua giai đoạn biến thái. Tuy nhiên, chiều dài và trọng lượng – cũng như mối quan hệ toán học của hậu ấu trùng hết sức quan trọng trong khoa học nuôi trồng thủy sản. Sau khi phân tích dữ liệu sinh trắc học đối với 480 hậu ấu trùng từ các hệ thống nuôi khác nhau, các tác giả đồng ý rằng khi biểu hiện kích cỡ hậu ấu trùng / tôm post thì trọng lượng thích hợp hơn là ngày tuổi.

Có phải ngày tuổi cung cấp thông tin tốt nhất về hậu ấu trùng tôm / tôm giống cho người nuôi? Kích cỡ và trọng lượng cũng rất quan trọng trong khoa học nuôi trồng thủy sản.

Bất cứ khi nào có ai hỏi người nuôi về cỡ tôm, câu trả lời thường thường trở lại là trọng lượng con (ví dụ, 7 g, 15 g, 20 g). Tiếp theo tại sao kích cỡ của hậu ấu trùng / tôm post được định theo ngày tuổi (ví dụ, PL 10, PL 15, PL 20)?

Thông thường, “kích cỡ” của hậu ấu trùng trên thị trường được quy theo ngày tuổi của chúng sau khi hoàn tất giai đoạn biến thái. Ví dụ PL 10 là con giống đã trải qua giai đoạn biến thái hoàn chỉnh (gồm các giai đoạn nauplii, zoea và mysis) và thành hậu ấu trùng/ tôm post 10 ngày tuổi. Tại thời điểm này, con giống đã hoàn thành quá trình phát triển hình thái và sinh lý của nó, quá trình ương ấu trùng chuẩn sẽ được hoàn tất.

Những thay đổi ở hậu ấu trùng / Postlarvae thương phẩm

Các yếu tố như sự thích nghi loài, cải thiện di truyền, đa dạng hóa và hiện đại hóa trong sản xuất đã và đang dẫn đến những tiến bộ quan trọng ở hậu ấu trùng / postlarvae tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương, Litopenaeus vannamei từ các trại giống thương phẩm để tới các trang trại nuôi tôm ở Brazil. Tôm post PL 10 của 20 năm trước đây chắc chắn không giống như bây giờ.

Không chỉ có những thay đổi ở hậu ấu trùng PL 10 – đây là cỡ giống được người nuôi tôm Brazil sử dụng nhiều nhất, mà đã có những thay đổi về nhu cầu thị trường trong 5 năm qua. Một nhu cầu về đa dạng hóa sản phẩm cần tìm cách thuần hóa hậu ấu trùng với các độ mặn cực đoan từ 0 đến 70 ppt và với cân bằng ion. Hậu ấu trùng với kích cỡ đồng đều lớn hơn và / hoặc tốc độ tăng trưởng ban đầu nhanh, cũng như hậu ấu trùng “nhiều ngày tuổi” đều đang được tìm kiếm.

Hậu ấu trùng “nhiều ngày tuổi” là sản phẩm của thời gian ương kéo dài, có thể lên tới 30 ngày. Nói chung, người nuôi dùng sản phẩm này là đang tìm kiếm đàn giống khỏe mạnh hơn do có thể đem lại sức chống chiu tốt hơn trong quản lý thả giống và tăng trọng nhiều hơn vào những ngày đầu tiên trong ao. Tiếp theo đó là có tầm quan trọng rất lớn đối với những người nuôi bị ảnh hưởng bởi hội chứng đốm trắng và các nhà sản xuất không có cơ sở giống tại trang trại.

Để tạo một số triển vọng cho thị trường này, AQUATEC Aquacultura Ltda. giới thiệu sản phẩm tôm giống PL 20 vào tháng 1/2009. Kể từ đó, công ty đã bán được hơn 1,5 tỷ PL 20 và 500 triệu PL 15, đáp ứng được cho nhu cầu ngày càng tăng trong khu vực.

Các sản phẩm như PL 20 cho thấy được quá trình hiện đại hóa trong ương ấu trùng, đặc biệt là khi tới cỡ. Đó là vì sau PL 10, ấu trùng bước vào một giai đoạn ương khác trong trại giống mà chủ yếu tập trung vào tăng trọng.

Đối mặt với rất nhiều thay đổi nhưng các câu hỏi vẫn tiếp tục phát sinh: Chúng ta có nên tiếp tục xác định hậu ấu trùng chỉ bằng ngày tuổi? Liệu việc này có cung cấp thông tin quan trọng nhất cho người nuôi tôm chưa?

Xác định kích cỡ  

Mặc dù ngày tuổi là một phương pháp được quốc tế thiết lập để xác định hậu ấu trùng kể từ khi bắt đầu có các trại sản xuất giống tôm biển thương phẩm thì riêng thông tin này đã bỏ qua các đặc điểm của hậu ấu trùng là có cùng ngày tuổi nhưng từ các nguồn gốc và các kỹ thuật quản lý sản xuất khác nhau. Ngoài ngày tuổi ra, thông tin như chiều dài và trọng lượng cũng như mối quan hệ toán học của chúng đều được công nhận là có tầm quan trọng sống còn trong khoa học nuôi trồng thủy sản.

Nhằm hiểu rõ hơn về mô hình tăng trưởng của hậu ấu trùng “nhiều ngày tuổi” và ảnh hưởng của ba hệ thống nuôi đến quá trình phát triển, các tác giả đã phân tích dữ liệu sinh trắc học đối với 480 hậu ấu trùng từ PL 15 đến PL 22 từ dòng Speedline-HB12 của AQUATEC tập hợp trong khoảng thời gian từ tháng 2/2013 đến tháng 2/2014.

Mức tăng trưởng: PL 15 đến PL 22

Hình 1 cho thấy đường cong tăng trưởng của tôm post PL 15 đến PL 22, trên đó điểm dừng tăng trọng xuất hiện ở giai đoạn PL 20. Hình 2 cho thấy đường cong tăng trưởng về chiều dài và thông tin về hệ số phương sai minh họa mức đồng đều cỡ cùng với mức tăng trưởng.

PL 1

Hình 1: Số lượng tôm post trên gram và trọng lượng cá thể tôm post PL 15 đến PL 22.

PL 2

Hình 2: Mức tăng trưởng cá thể trong đánh giá chiều dài và mức đồng đều cỡ qua hệ số phương sai của tôm post PL 15 đến PL 22

Như biểu thị trên đường cong thứ hai, mức đồng đều cỡ giảm khi ngày tuổi tăng. Ngoài ra, mức tăng chiều dài ít hơn so với mức tăng trọng lượng, xác nhận quan điểm ​​cho rằng ở giai đoạn này tôm đang trong quá trình tăng trọng lượng hơn là quá trình phát triển sinh lý.

Bước kế tiếp là để kết hợp thông tin trên với các mùa và các hệ thống nuôi khác nhau, phân tích ảnh hưởng của các yếu tố này trên hiệu suất của động vật.

Nghiên cứu này đã sử dụng hệ số béo theo Fulton là thước đo sức khỏe cá cho rằng trọng lượng tiêu chuẩn của cá tỷ lệ với lập phương của chiều dài.

Các tác động theo mùa

Ở các đồ thị của các thông số được phân tích trong năm kỳ mỗi kỳ ba tháng giữa tháng 2/2013 và tháng 3/2014 đã quan sát thấy những khác biệt nhiều hơn giữa ngày tuổi về trọng lượng hơn là chiều dài. Mặt khác, sự giống nhau về hệ số béo theo mùa đối với mọi ngày tuổi là rõ rệt. Chúng đều thể hiện mức giảm trung bình 18% trong kỳ (mỗi kỳ 3 tháng) thứ hai, sau đó phục hồi trong suốt ba kỳ (mỗi kỳ 3 tháng) tiếp theo là 4, 22 và 5%.

Dữ liệu lịch sử khí hậu trung bình cho mỗi kỳ ba tháng cũng được vẽ ở Hình 3. Các tháng với lượng mưa tối đa và nhiệt độ tối thiểu được xác định bởi hình chữ nhật màu đỏ.

PL 3

Hình 3: Lịch sử khí hậu (nhiệt độ) trung bình và các yếu tố điều kiện trung bình đối với tôm post PL 15 đến PL 22.

Các ảnh hưởng của hệ thống nuôi

Để nghiên cứu các ảnh hưởng của hệ thống nuôi, số liệu được chia thành ba hệ thống như thể hiện ở Bảng 1. Điều quan trọng cần nhấn mạnh kết quả của mỗi hệ thống là sự tổng hợp các ảnh hưởng từ môi trường ương và cơ sở ương (loại bể; hệ thống sục khí; nước đầu vào, thoát nước và nước chuyển động) cộng với quản lý (kể cả các khác biệt chính như quá trình chuẩn bị – duy trì bể và nước cùng với việc cho ăn).

Bảng 1: Mô tả về ba hệ thống được đánh giá.

Hệ thống nuôi Loại bể
Ngoài trời Các bể 13-m³
Nhà kính Các bể raceways 45-m³
Nhà kính Các bể tròn 30-m³

Việc xem xét loại hình mà các tác giả đã nghiên cứu với mỗi hệ thống được trình bày trong bảng này cũng quan trọng. Những thay đổi từ hệ thống này sang hệ thống khác là do nhu cầu sản xuất mà cũng vì còn đang tìm kiếm sự cải tiến về kết quả chăn nuôi và hiệu quả dây chuyền sản xuất.

So sánh ba hệ thống (hiện giờ đang xem xét số ngày ương và không còn là ngày tuổi, Hình 4) thì tôm được nuôi trong các bể ở nhà kính có năng suất tốt nhất. Để xác minh các điều kiện mà ở đó tôm đạt mức năng suất cao hơn này, hệ số béo đã được tính toán cho mỗi ngày ương đối với ba hệ thống thì các bể trong nhà kính vẫn có kết quả tốt nhất.

PL 4

Hình 4: Tôm tăng trọng trong suốt tuần cuối cùng của giai đoạn sản xuất giống thứ ba ở các hệ thống nuôi khác nhau.

Chọn ngẫu nhiên cỡ trọng lượng cố định 20 mg ở hệ thống bể nhà kính, trọng lượng này có thể đạt được trong 23 ngày, trong khi phải mất 25 đến 27 ngày ở các hệ thống bể và raceway tương ứng để tôm đạt cỡ 20 mg. Điều này có nghĩa là với những thay đổi và thích nghi ở cơ sở hạ tầng và quản lý thì có thể “lợi được” 4 ngày sản xuất trong khi vẫn duy trì tỉ lệ sống trung bình gần 100%.

Điều này làm cho câu hỏi ban đầu thậm chí còn phải suy nghĩ nhiều hơn nữa: Phải chăng ngày tuổi, bản thân nó đủ để chúng ta xác định thả tôm giống vào các ao nuôi tăng trưởng?

Khái niệm mới để xem xét

Nghiên cứu này đã cho thấy hậu ấu trùng / tôm post PL 20 có thể có trọng lượng từ 19 đến 45 mg, cũng giống như là 53 – 22 PL/g. Cùng ngày tuổi, nhưng khác nhau kích cỡ / trọng lượng. Loại nào tốt hơn cho người nuôi: nhiều ngày tuổi hoặc to hơn?

Là những nhà tiên phong về tiếp thị tôm giống PL 20 ở Brazil với 25 năm kinh nghiệm chuyên bán hậu ấu trùng tôm biển, AQUATEC Aquacultura Ltda. tin rằng giai đoạn sau PL 10, biểu hiện về kích cỡ của hậu ấu trùng tôm thích hợp với trọng lượng hơn là với ngày tuổi.

Dựa trên khái niệm này, công ty đã và đang bán loại hậu ấu trùng tôm “jumbo” mới kể từ tháng 5/2013. Tôm có trọng lượng trung bình 16 mg và cho kết quả khoảng 50 – 80 con/g đều được sản xuất trong bể ở nhà kính.

Một số con đã đạt mức cao hơn cả trọng lượng trung bình so với số tôm được mô tả trong bài viết này. Do đó, các tác giả tin rằng đây có thể là một bước tiến mới cho ngành nuôi tôm công nghiệp ở Brazil để cải thiện mối quan hệ giữa các trại giống và các trang trại nuôi.


Theo Công ty Bioaqua Vietnam, 19/09/2014

Share on FacebookTweet about this on TwitterShare on Google+Share on LinkedInPin on PinterestShare on TumblrDigg thisShare on RedditFlattr the authorEmail this to someone

Ý kiến của bạn