Triển vọng nuôi cá tầm Beluga

Cá tầm Beluga (Huso huso Linnaeus, 1758) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong số các loài cá tầm nuôi tại Việt Nam và có giá trị kinh tế cao, giàu dinh dưỡng.

Cá tầm Beluga được phân biệt với một số loài cá tầm khác bởi sự thiếu vắng các tấm xương trên mõm và sợi râu xúc giác bẹt, tương tự như một băng vải. Nó là một trong những loài lớn nhất trong số các loài cá tầm, có thể dài đến 5 m và khối lượng có thể đạt trên 900 kg. Chúng sinh sống tại những khu vực biển Đen, biển Caspi và biển Azov, từ các vùng này, những năm trước đây hàng đàn cá bơi vào các con sông lớn của Nga và sông Danube. Nhưng số lượng của chúng đã giảm nhiều trong những năm gần đây và các cá thể nặng khoảng 540 kg trở lên hiện nay rất hiếm. Thịt, trứng và bong bóng của chúng có giá trị lớn hơn so với phần lớn các loài cá nhỏ.

Cá tầm Beluga có thể thích nghi với cả nước mặn và nước ngọt. Nhiệt độ thích hợp nhất cho loài phát triển là 17 – 190C. Chúng cũng có thể sống trong trong môi trường có biên động giao động nhiệt độ lớn 10 – 290C.

Cá tầm Beluga có tập tính ăn đáy, sử dụng các loài động vật đáy như cá, giáp xác, động vật thân mềm làm thức ăn. Giai đoạn đầu, thức ăn sống đóng vai trò quan trọng trong ương cá bột. Ở giai đoạn ương cá hương lên cá giống, cá tầm Beluga được cho ăn kết hợp giữa các loại thức ăn sống cỡ lớn hơn (giun ít tơ và động vật phù du) với thức ăn tổng hợp để bổ sung dinh dưỡng. Giai đoạn nuôi thương phẩm tại Việt Nam, cá tầm Beluga được nuôi bằng thức ăn ngoại nhập chuyên dụng hoặc thức ăn nuôi cá biển.

Cá tầm Beluga được Công ty TNHH cá tầm Việt Nam di nhập, ấp nở và ương nuôi thành công tại Bình Thuận từ năm 2008. Các thử nghiệm nuôi cho thấy loài cá này thích ứng rất tốt với điều kiện nước ta.

Trong các loài cá tầm nuôi tại Việt Nam thì cá tầm Beluga có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, năm đầu tiên có thể đạt trọng lượng 1,9 – 3,2 kg, năm thứ hai có thể đạt 4,7 – 6,9 kg và năm thứ 3 là 7 – 10,2 kg. Cá tầm Beluga còn có tỷ lệ sống cao, hệ số chuyển hóa thức ăn thấp, phù hợp với điều kiện nuôi thương phẩm. Tuy nhiên loài cá này có tuổi thành thục rất muộn 10 – 15 năm, không phù hợp với điều kiện nuôi thu trứng.

Cá tầm Beluga là đối tượng dễ nuôi, có thể nuôi theo các hình thức nuôi ao nước chảy, ao nước tĩnh, nuôi lồng trong hồ chứa, nuôi công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn. Với mô hình nuôi trong ao nước chảy có thể đạt năng suất 30 – 50 tấn/ha, nuôi lồng trong hồ chứa đạt 15 – 20 kg/m2 lồng và nuôi khép kín trong quy mô thí nghiệm đạt 61 kg/m2. Ngoài ra, khi triển khai áp dụng một số giải pháp công nghệ như sục khí, quạt nước hay ứng dụng chế phẩm vi sinh cũng có thể đạt năng suất cao.

Thịt cá tầm Beluga thuộc loại đặc sản thơm ngon, giá cá thịt nguyên con tại vùng nuôi khoảng 200.000 – 250.000 đồng/kg. Hiện nay, thị trường tiêu thụ nội địa ngày càng tăng do mức sống của người dân ngày càng cao. Các thành phố như Hà Nội, Đà Lạt, Nha Trang, Hồ Chí Minh, Buôn Ma Thuột, Đà Nẵng, Huế… tương lai là những thị trường tiêu thụ nội địa lớn các sản phẩm cá nước lạnh.

Trong điều kiện hiện nay, nếu tận dụng hết tiềm năng sẵn có, đặc biệt là các hồ chứa, đập thủy điện ở khu vực phía Bắc và các tỉnh Tây Nguyên, hàng năm cũng có thể cho sản lượng lên đến hàng chục nghìn tấn. Tuy nhiên, nghề nuôi cá tầm chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, đồng thời tiềm ẩn những bất ổn, bị áp lực cạnh tranh từ Trung Quốc. Vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước cần có những chính sách và quy hoạch cụ thể để phát triển nghề này.

Beluga là một trong 4 loài cá tầm đủ điều kiện đưa vào danh mục được phép sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. (Thông tin từ hội thảo “Đánh giá kết quả nghiên cứu và thử nghiệm nuôi các loài cá tầm tại Việt Nam để trình Bộ NN&PTNT đưa vào danh mục được phép sản xuất kinh doanh”, ngày 8/1/2015).

Theo Nguyễn Nhung, Tạp chí thủy sản Việt Nam, 24/03/2015

Share on FacebookTweet about this on TwitterShare on Google+Share on LinkedInPin on PinterestShare on TumblrDigg thisShare on RedditFlattr the authorEmail this to someone

Ý kiến của bạn