Nuôi tôm nước lợ theo hướng hiệu quả, bền vững, đảm bảo ATVSTP

Mục tiêu chung của “Quy hoạch nuôi tôm nước lợ ĐBSCL đến năm 2020, định hướng năm 2030” là phát triển nuôi tôm nước lợ ĐBSCL đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 theo hướng hiệu quả, bền vững, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước và chế biến xuất khẩu; góp phần tạo việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội khu vực.

Đó là chia sẻ của TS Nguyễn Thanh Tùng – Viện trưởng Viện Kinh tế  và Quy hoạch thủy sản (Bộ NN&PTNT)với TSVN.

Ảnh: Ngọc Thọ

Ông nói: Vùng ĐBSCL có lợi thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển ngành tôm nước lợ. Thời gian qua, đã có sự quan tâm chỉ đạo cũng như hỗ trợ của các ngành, các cấp về mặt quản lý ngày càng chặt chẽ, tạo điều kiện tối đa cho người nuôi phát triển sản xuất. Các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành kịp thời; các quy hoạch, chương trình, đề án đã có những hiệu quả thiết thực, tạo tiền đề thực hiện các chiến lược, kế hoạch phát triển ngành tôm; kinh nghiệm nuôi của cơ sở sản xuất, trình độ chuyên môn kỹ thuật đã được nâng cao đáng kể. Hoạt động sản xuất giống trong vùng dần đã được xã hội hóa, cung cấp một phần con giống tôm chất lượng ra thị trường. Một số công ty có uy tín về sản xuất giống tôm nước lợ đã đầu tư các cơ sở sản xuất giống trong vùng… Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là nguồn tôm giống chưa chủ động, phải nhập từ ngoài vùng, quản lý chất lượng giống chưa tốt khi tình trạng giống trôi nổi đang liên tục diễn ra; năng lực khoa học công nghệ trong thủy sản nói chung và tôm nước lợ nói riêng còn yếu. Tốc độ phát triển nuôi tôm nước lợ trong thời gian qua rất nhanh, nhưng chủ yếu theo chiều rộng, sự tăng trưởng nhanh của sản lượng, phát triển chất lượng theo chiều sâu còn rất hạn chế. Phát triển khoa học công nghệ (KHCN) vẫn chậm, đi sau tốc độ phát triển và yêu cầu của sản xuất, thiếu đồng bộ trong nghiên cứu, ứng dụng KHCN và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong các vấn đề về giống tôm sạch bệnh, chất lượng giống bố mẹ, giống hậu bị, nghiên cứu dinh dưỡng, sản xuất thức ăn thủy sản, nghiên cứu bệnh thủy sản, thuốc kháng sinh, các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh… Nguyên liệu sản xuất thuốc, thức ăn phụ thuộc nhập khẩu; không thể kiểm soát giá cả, chất lượng thức ăn là nguyên nhân chính tác động đến hiệu quả kinh tế của người nuôi, tác động đến cả ngành sản xuất khi chưa có những biện pháp quản lý hiệu quả…

Thưa ông, ông đánh giá như  thế  nào về  hiện trạng nuôi tôm nước lợ  tại ĐBSCL trong thời gian qua?

Nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL tập trung tại 8 tỉnh ven biển gồm Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau với 2 đối tượng chính là tôm sú và tôm thẻ chân trắng (TTCT). Đến năm 2014, diện tích nuôi tôm nước lợ toàn vùng đạt 604.954 ha, tăng trưởng bình quân 1,23%/năm so với năm 2005 với 541.982 ha. Diện tích nuôi tôm TTCT năm 2014 đã tăng hơn 14 lần so với năm 2008 (từ 4.293 ha tăng lên 60.244 ha).

Thách thức lớn nhất đối với nuôi tôm nước lợ  vùng ĐBSCL là gì, thưa ông?

Thách thức đó là nguồn tôm giống chưa chủ động, phải nhập từ ngoài vùng, quản lý chất lượng giống chưa tốt khi tình trạng giống trôi nổi liên tục diễn ra.

Năng lực KHCN trong thủy sản nói chung và tôm nước lợ nói riêng còn yếu. Theo tôi, tốc độ phát triển nuôi tôm nước lợ trong thời gian qua rất nhanh, nhưng sự phát triển đó diễn ra chủ yếu theo chiều rộng, với sự tăng trưởng nhanh của sản lượng, phát triển chất lượng theo chiều sâu còn rất hạn chế. Phát triển KHCN vẫn chậm, đi sau tốc độ phát triển và yêu cầu của sản xuất, thiếu đồng bộ trong nghiên cứu, ứng dụng KHCN và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong các vấn đề về giống tôm sạch bệnh, chất lượng giống bố mẹ, giống hậu bị, nghiên cứu dinh dưỡng, sản xuất thức ăn thủy sản, nghiên cứu bệnh thủy sản, thuốc kháng sinh, các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh…

Nguyên liệu sản xuất thuốc, thức ăn phụ thuộc nhập khẩu; không thể kiểm soát giá cả, chất lượng thức ăn là nguyên nhân chính tác động đến hiệu quả kinh tế của người nuôi, tác động đến cả ngành sản xuất khi chưa có những biện pháp quản lý hiệu quả. Bên cạnh đó, hệ thống phân phối thông qua các đại lý, điểm bán hàng đã góp phần tăng cao chi phí trung gian, ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi tôm khi người nuôi không rõ nguồn gốc cụ thể và chi phí đầu vào quá cao.

Đó là chưa kể, hạ tầng thủy lợi chưa hoàn thiện, hệ thống kênh cấp, kênh thoát chưa đáp ứng nhu cầu nên gây khó khăn cho công tác sản xuất và kiểm soát dịch bệnh. Ngoài ra, hiện trạng quy mô diện tích các mô hình nuôi TTCT ở mức nhỏ, hầu hết các hộ nuôi đều không có ao lắng, ao xử lý thải, khu vực xử lý bùn đáy ao nên khi xuất hiện bệnh người dân xử lý không triệt để hoặc thải trực tiếp ra môi trường gây nên dịch bệnh cục bộ. Và cuối cùng, ý thức người nuôi chưa tốt trong việc tuân thủ lịch thời vụ nên đã ảnh hưởng đến công tác kiểm soát dịch bệnh, việc sử dụng thuốc hóa chất quá nhiều đã gây suy thoái môi trường.

Ông đánh giá thế  nào về  tình hình diễn biến dịch bệnh trên tôm nước lợ  tại các tỉnh ĐBSCL thời gian qua?

Các bệnh chủ yếu trên tôm nước lợ thường gặp là hoại tử gan tụy cấp, đốm trắng, đường ruột. Trong đó, mức độ thiệt hại cao nhất là khi tôm nhiễm bệnh gan tụy cấp và đốm trắng, người nuôi gần như thiệt hại hoàn toàn, buộc phải thu hoạch sớm.

Người nuôi tôm ngày càng có ý thức trong kiểm dịch tôm giống nhất là các cơ sở nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh. Đối với tôm giống nhập tỉnh, tỷ lệ tôm kiểm dịch đạt yêu cầu cao do trước khi xuất bán đã được kiểm tại nơi xuất. Tuy nhiên, còn một số dịch vụ vận chuyển, hộ nuôi mua trực tiếp ngoài tỉnh chưa thực hiện tốt quy định kiểm dịch. Tình trạng nuôi tự phát, nuôi lén tại các vùng ngoài vùng quy hoạch không đảm bảo an toàn dịch bệnh cũng là vấn đề bức xúc hiện nay. Tổng Cục Thủy sản đã ban hành quy trình nuôi tôm nước lợ hạn chế dịch bệnh. Các tỉnh trong vùng ĐBSCL cũng đã xây dựng lịch thời vụ thả nuôi để hạn chế dịch bệnh.

Tỷ lệ tôm giống giống nhập tỉnh tại địa phương đã qua kiểm dịch chưa cao, công tác quản lý nhà nước trong truy xuất nguồn gốc còn nhiều bất cập với tình trạng né tránh kiểm tra, kiểm dịch của các cơ sở kinh doanh nhằm tiết giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến người nuôi tôm.

Thưa ông, liệu rằng chất lượng giống tôm nước lợ hiện nay đã đáp ứng được nhu cầu thị  trường?

Các tỉnh có năng lực sản xuất tôm giống nhiều nhất ở ĐBSCL là Cà Mau và Bạc Liêu. Tuy nhiên nguồn cung ứng tôm giống nội vùng chưa đủ cho nhu cầu sản xuất, ĐBSCL vẫn phải nhập giống từ các tỉnh Trung Bộ như Ninh Thuận, Bình Thuận và Nha Trang. Việc phải nhập giống với số lượng lớn, địa bàn rộng, nguồn giống nhập đa dạng gây rất khó khăn cho hoạt động kiểm soát chất lượng con giống và quản lý dịch bệnh.

Với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các trại giống tôm chưa đảm bảo điều kiện sản xuất, không đạt tiêu chuẩn và chưa kiểm soát được chất lượng con giống. Các trại sản xuất giống tôm sú tại ĐBSCL chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tôm bố mẹ tự nhiên, chất lượng không đồng đều; trong khi đó, nguồn TTCT bố mẹ lại phụ thuộc vào thị trường nhập khẩu; số lượng nhập khẩu tôm bố mẹ và tần suất sinh sản chưa được kiểm soát đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất và tiêu thụ tôm giống đảm bảo chất lượng trong vùng.

Thêm vào đó, với lịch mùa vụ tập trung trong giai đoạn tháng 1 – 11, việc cung cấp con giống chất lượng chưa đảm bảo sản xuất liên tục trong thời gian thả nuôi đã tạo cơ hội cho các cơ sở sản xuất kinh doanh giống kém chất lượng tiếp cận đến người nuôi.

Mục tiêu chung của “Quy hoạch nuôi tôm nước lợ ĐBSCL đến năm 2020, định hướng năm 2030” là gì, thưa ông?

Mục tiêu chung của Quy hoạch là phát triển nuôi tôm nước lợ cho vùng ĐBSCL đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 theo hướng hiệu quả, bền vững, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước và chế biến xuất khẩu; góp phần tạo việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội khu vực ĐBSCL.

Quy hoạch đề cập những nội dung chính, cốt lõi gì, thưa ông?

Quy hoạch sẽ đề cập đến các vấn đề về phát triển nuôi tôm nước lợ trong thời gian qua nhằm có cái nhìn tổng quát, toàn diện về các nguồn lực có khả năng thúc đẩy phát triển nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL. Quy hoạch sẽ đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các nguồn lực phát triển nuôi tôm nước lợ; đánh giá chung về hiện trạng phát triển nuôi tôm nước lợ; đây là điều kiện cần để xây dựng các phương án quy hoạch. Song song với đó, việc phân tích và dự báo các điều kiện phát triển nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 là điều kiện đủ tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng các phương án và chỉ tiêu phát triển nuôi tôm nước lợ. Việc đánh giá hiện trạng, nguồn lực và phân tích, dự báo điều kiện phát triển còn là cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp thực hiện quy hoạch: về cơ chế chính sách, khoa học công nghệ và khuyến ngư, thị trường và xúc tiến thương mại, tổ chức và quản lý sản xuất, bảo vệ môi trường, hợp tác quốc tế, đầu tư và tổ chức thực hiện Quy hoạch.

Quy hoạch tốt rồi nhưng muốn triển khai vào thực tế được hiệu quả  thì các đơn vị  liên quan, địa phương, doanh nghiệp, người nuôi cần phải làm gì, thưa ông?

Bộ NN&PTNT đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức thực hiện quy hoạch, thông tin thống kê về tình hình sản xuất, tiêu thụ, dự báo thị trường, xúc tiến thương mại, rà soát và đề xuất điều chỉnh bổ sung quy hoạch trên cơ sở đề nghị của các tỉnh, tình hình thị trường và thực tiễn sản xuất tôm nước lợ; thực hiện kiểm tra, tổng hợp thông tin và định kỳ báo cáo; triển khai xây dựng các dự án khả thi theo đề xuất để đáp ứng yêu cầu mục tiêu quy hoạch đề ra; phân công trách nhiệm quản lý, hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và giám sát môi trường.

Với Sở NN&PTNT các tỉnh thì trên cơ sở Quy hoạch nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, sẽ triển khai thực hiện rà soát quy hoạch chi tiết phát triển nuôi tôm nước lợ trên địa bàn của địa phương, phân vùng nuôi tập trung theo tiêu chí lựa chọn vùng nuôi, cấp mã số nhận diện ao nuôi cụ thể phục vụ cho việc xác nhận diện tích, sản lượng tôm nuôi, tạo tiền đề cho việc xây dựng hệ thống thống kê, quản lý diện tích và sản lượng kịp thời, gắn với thị trường tiêu thụ; tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, định kỳ sơ kết, tổng kết và kịp thời phản ánh để điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn phát triển; đề xuất xây dựng các vùng nuôi mẫu trong phạm vi từ 10 – 30 ha làm mô hình cho nông dân học tập. Vận động xây dựng thí điểm mô hình người dân góp đất, dồn điền đổi thửa hình thành những khu nuôi trồng thủy sản mẫu với đầy đủ hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, làm tiền đề cho việc xây dựng chương trình hiện đại hóa sản xuất ngành tôm và nuôi tôm theo tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế. Các Sở nên khuyến khích tổ chức, cá nhân nuôi tôm nước lợ xây dựng và phát triển thương hiệu, có uy tín, gắn với chỉ dẫn địa lý phù hợp với sự phát triển sản xuất của từng cá nhân, doanh nghiệp; định kỳ mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật cho người sản xuất thông qua tổ chức khuyến ngư, Viện, Trường… Đặc biệt, cần tăng cường đào tạo cán bộ quản lý, đội ngũ thanh tra, kiểm soát viên cho từng khâu từ kiểm soát giống, thức ăn đến vệ sinh an toàn thực phẩm có đủ trình độ giám sát, hướng dẫn và quản lý quy hoạch.

Đối với UBND các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL, tổ chức rà soát, lập và phê duyệt quy hoạch chi tiết nuôi tôm nước lợ phù hợp với quy hoạch nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 được Bộ NN&PTNT phê duyệt.

Về phía các hiệp hội, cần giám sát việc thực hiện các nội dung quy hoạch đã phê duyệt, kiến nghị đến các cơ quan chức năng xử lý các tổ chức, cá nhân không thực hiện đúng theo quy hoạch về nuôi tôm nước lợ. Qua đó, làm cầu nối và tổ chức liên kết giữa các khâu của quá trình sản xuất, giữa các hội viên với các tổ chức và cơ quan quản lý nhà nước.

Và đặc biệt, doanh nghiệp, cá nhân nuôi tôm nước lợ cần thực hiện tốt quy hoạch về quy định vùng nuôi, nuôi theo quy chuẩn kỹ thuật đã được Bộ NN&PTNT khuyến cáo và các quy phạm nuôi trồng thủy sản tốt như VietGAP, GlobalGAP… xây dựng và phát triển thương hiệu tôm nước lợ Việt Nam trên thế giới, tạo thị trường tiêu thụ ổn định để phát triển nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung.

“Mục tiêu cụ thể của Quy hoạch là xây dựng được các chỉ tiêu chính phát triển nuôi tôm nước lợ (tôm sú, TTCT) theo các mốc năm 2015, năm 2020 và tầm nhìn 2030; xác định được phương thức nuôi, đối tượng và mô hình nuôi tôm nước lợ (tôm sú, TTCT) theo các vùng sinh thái và xây dựng chương trình dự án đầu tư, cơ chế chính sách và giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển nuôi tôm nước lợ cho vùng ĐBSCL đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 theo hướng hiệu quả và bền vững” – TS Nguyễn Thanh Tùng.

Theo Trần Ngọc Thọ (Thực hiện), Tạp chí thủy sản Việt Nam, 18/03/2015

Share on FacebookTweet about this on TwitterShare on Google+Share on LinkedInPin on PinterestShare on TumblrDigg thisShare on RedditFlattr the authorEmail this to someone

Ý kiến của bạn